Bài 2008: Quán Vô Ngã – Thất Bảo#2 – NamMô TaMô TaMô ĐaRaHoang

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật! Mu A Mu Sa! Nam Mô Tà Mô Tà Mô Đa Ra Hoang. Chúng con nguyện mười phương Chư Phật ban rải năng lượng thanh tịnh xuống muôn loài chúng con để chúng con quán chiếu thấy rõ thực tướng của các pháp là vô thường, khổ, vô ngã. Các bạn thân mến, mời các bạn đặt bàn tay phải tượng trưng cho trí tuệ vào lòng bàn tay trái tượng trưng cho Từ Bi, chúng ta lấy trí tuệ và Từ Bi đi vào hơi thở của chúng ta, cùng nhau đồng trì mật chú Nam Mô Tà Mô Tà Mô Đa Ra Hoang. Hãy hít thở nhẹ nhàng, quán chiếu thân tâm của mình với 2 Phật ngôn này hiển hiện trong từng giây phút của cuộc sống, mang tình yêu thương, lòng Từ Bi ban rải xuống. Mời các bạn.

Con nguyện mười phương Chư Phật, ban rải năng lượng đại Từ đại Bi xuống muôn loài chúng con để chúng con quán chiếu thấy rõ thực tướng của các Pháp là khổ, vô thường, vô ngã niết bàn, hít vào bằng mũi đưa xuống dưới bụng phình ra, thở từ từ, hóp bụng vào, quán chiếu thân tâm, trì mật chú Mu A Mu Sa, Nam Mô Tà Mô Tà Mô Đa Ra Hoang.

Con nguyện mười phương Chư Phật, ban rải năng lượng đại Từ đại Bi xuống cho mọi loài chúng con để chúng con quán chiếu thấy rõ được thực tướng của các Pháp vô thường là khổ, vô ngã niết bàn, hít vào bằng mũi đưa xuống  bụng phình ra, thở từ từ, hóp bụng vào, quán chiếu thân tâm, trì mật chú Mu A Mu Sa, Nam Mô Tà Mô Tà Mô Đa Ra Hoang.    

Con nguyện mười phương Chư Phật, ban rải năng lượng đại Từ đại Bi xuống cho mọi loài chúng con để chúng con quán chiếu thấy rõ được thực tướng của các Pháp vô thường, khổ, vô ngã niết bàn, hít vào bằng mũi đưa xuống dưới bụng phình ra, thở từ từ, hóp bụng vào, quán chiếu thân tâm, trì mật chú Mu A Mu Sa, Nam Mô Tà Mô Tà Mô Đa Ra Hoang.

Mu A Mu Sa, Nam Mô Tà Mô Tà Mô Đa Ra Hoang.

Mu A Mu Sa, Nam Mô Tà Mô Tà Mô Đa Ra Hoang.

Mu A Mu Sa, Nam Mô Tà Mô Tà Mô Đa Ra Hoang.

Mu A Mu Sa, Nam Mô Tà Mô Tà Mô Đa Ra Hoang.

Mô Phật, các bạn thân mến, khi chúng ta học về những lời đức Phật dạy, một câu hỏi mà mỗi người chúng ta phải luôn luôn tự hỏi rằng, hiện thân trong cuộc đời tu luyện đi đến sự giác ngộ, và dạy cho chúng ta con đường đi tới sự giác ngộ để làm gì? và vì nguyên nhân gì Ngài đi tu, giác ngộ, rồi giải thoát, câu trả lời thật rõ, không cầu kì, không tô vẽ, cho có vẻ huyền bí như Phật học cao siêu mà rất thực tế, ai cũng thấy được, đó chính là đức Phật nhận ra, thời của đức Phật khi còn rất trẻ, khổ vì bệnh hoạn, khổ vì tình, khổ vì già nua đau đớn, khổ vì sinh ra vất vưởng ở trong đời, thấy nơi chúng sanh quá khổ, thấy nơi bản thân của mình cũng khổ. Và vì như vậy, đức Phật đã chỉ cho chúng ta con đường để làm sao thấu hiểu được và chuyển hóa được khổ đó cho cuộc đời của con người chúng ta dù thật ngắn ngủi hay dài một trăm năm, để được tận hưởng niềm sung sướng, hạnh phúc, an vui, trong một kiếp người ngắn ngủi, Ngài đi, Ngài đã đi và Ngài đã cuối cùng nhận ra tại sao bị khổ, và để chuyển hóa khổ đó, nguyên nhân gây ra khổ, đây đạo Phật, để có thể thấy khổ và tìm ra con đường để thoát khổ, để hạnh phúc an vui, thấy khổ, những nguyên nhân tạo ra khổ để chuyển hướng, không gieo nhân đó nữa, hạnh phúc và an vui. Nếu chúng ta là Phật tử tại gia thường nói thiên về chiều sâu của Phật Pháp, chứng đắc quả Thánh, A La Hán, vị Phật thì chẳng khác gì đưa tay mà với lên trên trời kéo mây xuống cho trẻ con nó chơi. Hồi xưa có câu chuyện, có một ông vua, lúc nào ông cũng nhìn lên trời thấy hằng hà tinh tú, thế rồi ông ấy đã nói rằng, sẽ có ngày Trẫm hái tinh tú từ trời xuống, để tặng cho vị mỹ nữ đó, hái sao trời tặng cho mỹ nữ để được mỹ nữ mà thôi. Nhưng đã đến ngày hẹn ông ta không thể làm được, điều đó đơn giản mà, ta là vua mà thời xưa vua tức là thiên tử, là con trời, trên cuộc đời này ta ra lệnh được với ý tưởng ta là thiên tử, ta là vua, ta nói một tiếng là sao nó phải rụng vô bàn tay để tặng cho mỹ nữ, ta là thiên tử, ta là con của ông trời, tên thật là lớn. Ta là con ông trời, là thiên tử, là vua đó, ông ta hô hét mà sao ở trên trời chẳng rụng xuống một ngôi nào để tặng cho mỹ nữ, ông ta đang buồn là bởi vì nếu không hái được sao trời, sao ta có thể có được mỹ nữ, nhưng bất chợt có một gã ăn mày nằm bên lề đường, thấy vị vua đang buồn, người ăn mày hỏi, vị vua trả lời, ta đang muốn hái sao để tặng cho mỹ nữ, sắp đến ngày rồi mà không biết làm sao. Vị ăn xin đó ngáng chân nhà vua và nói thật dõng dạc: ôi chuyện hái sao trời thì dễ, có gì đâu mà khó chỉ cần ta…, một kẻ ăn mày xưng với thiên tử rằng: ta, ta sẽ làm được, thì ông vua tức dữ lắm, muốn tìm cách giết gã ăn mày này nhưng không được, vì dám đấu với thiên tử, với vua. Nhưng ngẫm nghĩ cho kĩ thì vua vẫn cần hái sao trời tặng cho mỹ nữ, nên vua chìu kẻ ăn mày để mà lấy sao trời tặng cho mỹ nữ, mục đích chỉ có vậy nên sẵn sàng tặng y áo cho kẻ ăn mày, cho tắm nước hoa, rửa cho thật thơm, mang vào cung đình, chìu chuộng dữ lắm, vàng bạc cho đầy đủ hết để mà kẻ ăn mày chỉ cho pháp môn tuyệt vời hái sao trời đặt ở lòng bàn tay. Vị ăn mày sạch sẽ rồi, bắt đầu chỉ cho vua pháp môn hái sao trời, nay không còn là một vị ăn mày nữa, mà hình như trở thành vai của một vị đạo sĩ, có thần thông hái được sao trời. Ai học được pháp thuật này? bởi ai cũng học được sẽ hái sao trời tặng thì mỹ nữ trần gian này sao có thể lọt vào tay vua, nhiều mỹ nữ, mỹ nữ càng nhiều thì phải qua thuật thần thông hái sao trời… Đến ngày, trời sao lấp lánh ở trên, vị đạo sĩ ăn mày kia, mới ngồi đó nói với vua rằng, không thể thực hành pháp thuật ở ngoài này, người ta sẽ học, pháp thuật cao cường, tinh thông, nhưng nhìn một cái, học một cái là thực hành được ngay, thành tựu được ngay… Nghe pháp thuật gì mà tinh diệu như thế, nhưng chỉ nhìn mà có thể học được, vị vua mang lòng ích kỷ, bởi sợ người ta biết, nên đuổi hết quân ra, và trong khu vườn thật quang đãng, thì lão đạo sĩ sai đi lấy một thau nước, khi vua mang thau nước xuống, vị đạo sĩ làm phép gì không biết bởi ngó lên trên trời mà, rồi cuối cùng …nhà vua nhìn thau nước thì thấy hằng hà tinh tú ngôi sao, trong lòng mừng dữ lắm, hạnh phúc vô cùng, bởi sao không còn xa vời ở cõi trời mà gần ngay tầm mặt dưới đáy thau, tay có thể chạm vào được. Nhà vua cười ha hả, đưa cả hai tay mân mê ngôi sao, ngay cả mặt trăng cũng trắng ngà ở dưới đáy thau, rồi cũng mân mê cười sảng, và hiểu ra được pháp thần thông có thể mang được sao cả ở trên trời xuống trong đáy của thau để đưa tay chạm vào, quên luôn vị đạo sĩ thần thông kia, chạy vô trong phòng mỹ nữ mang ra mà tặng sao trời. Câu chuyện này lúc đầu nghe huyền bí, thấy thích thích nhưng cuối cùng thì chỉ là một thau nước không còn gợn sóng, tĩnh lặng để có thể phản ánh được sao trời, ở xa diệu vợi mà rồi thấy được ở ngay tầm mắt, phải chăng khi mặt nước thanh tịnh thì chúng ta có thể thấy được những điều gì xa vời ở trên trời nhưng thật gần, gần ngay trước tầm mắt, tay có thể chạm vào được. Chỉ cần nước trong, thanh tịnh, không sóng, muôn vì sao. Chúng ta khi nói đến chủ đề Quán Vô Ngã, mà đương thời khi Phật còn hiện thế, đó là thời bà la môn mà, người ta luôn tin có một cái ngã đó phải là linh hồn, ngã đó phải là một chủ ngã tồn tại trong thân tâm này, và nó có thể tự tách biệt ra, mà không cần thân xác này… Có những nền triết học hoặc những môn học nghĩ rằng, xuất hồn ngao du tứ hải, vướng vào đọt lá, nhốt đời oan gia. Nhưng chỉ vướng vào một đọt lá buổi sương mai khi nó trổ lên thôi rồi trơn trượt té, rồi cả đời oán than, cũng chính vì những điều đó, mà người ta có sự phân biệt, tìm một cái gọi là ngã tướng, mà trong Phật giáo thì bắt đầu nảy sinh ra biết bao nhiêu những vị đạo học cao siêu diễn giải về vô ngã. Dù diễn như thế nào, viết như thế nào, bằng ngôn ngữ hiện đại, ngôn ngữ uyên thâm, cao tận, càng diễn thì càng vô triển ngã của người đang nói về vô ngã, nào chấp nhận sự giải thích về vô ngã của người này người kia, không ai hết. Ai cũng nghĩ rằng sự giải thích về vô ngã của ta là đúng nhất.  Sự giải thích đó, thêm màu sắc của ngôn ngữ, tô vẽ cho nó hay theo ý tưởng của chính mình, do đó vô ngã của mình nó cao vút, nhưng thật ra nó chỉ là ngã của bản thân tô vẽ nhiều như họa sĩ mà thôi, như tấm vải trắng khi đã nhuộm màu nó chẳng còn như ban đầu, như thau nước sóng sánh, không tĩnh lặng sao trời sao có thể hiện, càng tô vẽ, càng nói về vô ngã, càng đi tìm vô ngã thì khác gì như ông vua, nghĩ ta là thiên tử con trời, muốn hái sao trời tặng cho mỹ nữ. Phật tới không phải chỉ cho chúng ta rằng, ta là ai, cái ta là cái ngã này nó như thế nào, mà vượt thành đi tu của Ngài là thấy được chúng sanh khổ, bao nhiêu cái khổ chồng chất chưa giải quyết được. Là con người, để có sự trải nghiệm hạnh phúc và an vui, thì đi tìm chủ ngã, bản ngã trong thiên hạ chẳng mang lại lợi ích gì, Phật không đi tìm chân lý để thấu hiểu độc tôn, độc ngã, mà Phật đi tìm chân lý để giải quyết làm sao sự khổ đau phiền não không còn, để ta tu. Chúng ta cũng muốn thành một vị đạo sĩ, như một lão ăn mày nằm ở lề đường, về chỉ cho chúng ta pháp thần thông vi diệu , hái sao trên trời, một cú lừa ngoạn mục nhưng đối với vua, đối với thiên tử kia, ông thỏa mãn để lấy được mỹ nữ. Chúng ta sống ở trên đời cũng lăn xả vào để tìm những bậc đạo sĩ chỉ cho pháp thần thông diệu kì bằng ngôn ngữ, bí pháp cao siêu, nhiệm màu để xuất hồn hái sao trên trời, để mân mê trăng ngà dưới đáy thau, chúng ta có nên như vậy hay không. Có câu chuyện không biết đúng hay sai, thật hay là giả, nhưng Bảo Thành vẫn thích nói, hồi xưa ông Lý Thế Bạch rất thân thiết với vua, nhưng sanh lòng thương vợ của vua, một lần ông đi du ngoạn ở trên nhà hồ, cái nhà nằm trên hồ nước, ông ta nhìn thấy mặt trăng sáng long lanh dưới đáy nước, liền phát tâm rằng muốn lấy trăng dưới nước mà dâng hiến cho vợ của vua để lấy lòng, và ông ta tuyên bố với vua ông ta sẽ lấy trăng để tặng, vua lúc đó chắc có lẽ cũng buồn, cũng tức, cũng ghen, nhưng mà bạn hiền, biết sao đây, liền để cho ông Lý Thế Bạch say rồi, liền nhảy xuống hồ nước để hái trăng tặng, nhưng mà say rồi, đâu có biết rằng trăng đó chỉ là phản ánh dưới hồ nước mà thôi, nên khi nhảy xuống ông ta chết đuối. Nhà vuua biết chuyện, cười để ông ta đi nhẹ nhàng.  Chúng ta cứ mơ hồ như vậy, tự say sưa với những cái bản ngã, cái tôi của chính mình, thành tựu, mục đích riêng tư của mình. Phật nhận ra cái ngã này là nguyên nhân tạo ra khổ, tôi có, tôi đây, tôi làm chủ, tôi mạnh và thích phô diễn cái tôi đó là nguyên nhân tạo ra khổ, người chấp vào tôi, chấp vào ngã không thấu hiểu được vô thường. Vô thường là sanh diệt không tồn tại, không thể có cái tôi, chính vì chấp vào mọi chuyện ta đang nhìn, đang tương tác, ta đang tưởng tượng suy nghĩ, ta đang có nhận thức những điều đó, tưởng là thật, đúng hơn nói theo ngôn từ Phật giáo ngũ uẩn tức là sắc thân mà Đức Phật nói, sắc thân này chỉ là giả hợp như nhân duyên kết lại, như đất, nước, gió, lửa để mà thành, cảm thọ của chúng ta do sự tương tác của não bộ, cộng với thân qua sự xúc chạm mà tạo thành cảm thọ. Tưởng, tưởng tượng, hành cũng như thế và thức cũng như vậy. Nhưng những câu danh từ về ngũ uẩn, sắc, thọ, tưởng, hành, thức,  đối với Phật tử tại gia, có một số bạn thông thái học được kinh, nghe được giảng, cũng thuộc cũng biết nhưng sự chấp nhận cũng chỉ là sự mơ hồ. À, chấp nhận hệ thống ngôn ngữ, một hệ thống lý luận, một hệ thống gọi là triết học, triết lý Phật giáo cao siêu, nhưng mà rồi ta không thấm, nó vẫn còn rất mơ hồ. Rất may trong cuộc đời hiện tại của chúng ta, thế giới phát triển, có một chủng người mà ít khi nào chúng ta nói tới. Khi nói về người, ta có thể nói về người Việt Nam, người châu Âu, người châu Phi, người Ai cập, người Ấn độ, ở trên thế giới này có bao nhiêu quốc gia thì có bao nhiêu loại người như vậy. Ta đã phân biệt rất nhiều chủng loại. Nhưng có một loại người, họ sinh hoạt bình thường như chúng ta, các bạn biết đó là người gì không, người nào ta cũng có thể giao du, trong sự tương tác vẫn biết còn có sự kì thị, nhưng ít nhiều chúng ta cũng giao du tương tác, và được quyền sống với chúng ta, nhân quyền mà. Nhưng có một loại người ta chưa chấp nhận và người này đôi khi còn giỏi hơn chúng ta đó chính là người máy, nếu mà người máy xưa chưa có ý tưởng thì ngày nay đã hình thành ý tưởng và ngày nay thông minh đến mức có cảm xúc, có đối đáp, có tiếp cận y như con người, mà còn được cài đặt vào những bộ nhớ bằng những con chip siêu vi, để còn thông thái… và rồi con người đã có ý tưởng tạo ra người, nhưng mà không phải là người như mình, mà là người máy để phục vụ cho xã hội, thâm chí mà còn làm ở trong nhà thương giỏi hơn bác sĩ. Ngày nay người ta đã ứng dụng người máy trong giải phẫu rồi, trên các sao hỏa sao kim, người ta cũng chế tạo ra được người máy để thám hiểm rồi, nhưng người ta chưa có chế ra như hình hài con người của ta để chúng ta không có nhầm lẫn, nên chế ra những hình dạng khác nhưng đó là thuộc dạng người máy. Họ gửi về Trái Đất này những thông tin. Họ được đáp lên sao Hỏa để tìm hiểu về đó. Người ta đã sản xuất ra người máy mang hình hài có cảm giác và tướng hảo thậm chí là con người y như ta, không khéo coi chừng các bạn là người máy mà không hay, bởi thông minh có tự thể của người máy. Toàn bộ người ta chỉ dùng một con chíp chế tạo nên hình hài như người, rồi nó vận hành bằng năng lượng, có phải các bạn và Bảo Thành là người máy hay không, đây là câu hỏi. Bởi dưới con mắt trong môi trường khoa học phát triển, cuộc đời là sự phản chiếu lại cả một quá khứ được con chíp đó, được gọi là thần thức. Thân này không phải ngã của ta, nó như người máy thôi, năm uẩn tức là cảm thọ của ta, không phải là ta, bởi vì nó cũng bị tiêu diệt cho nên chúng ta thấy từng cảm thọ vui buồn trong cuộc đời, vui với người này người kia. Tức là những cảm xúc đó nó do nhân duyên của những giác quan tiếp xúc với cảnh ở bên ngoài, tạo ra cảm giác nhưng nó không phải là ta, là cảm giác đó chính vì chúng ta đã hiểu lầm.

Khi người ta phun ra những điều không như ý như nước tràn, như núi lửa, ta cho đó là ta, từ đó mà ta có những hành động lỗ mãng, gây tạo tác ác, ảnh hưởng đến hạnh phúc của ta và của người, chính vì ta tưởng rằng sự suy nghĩ của ta, sự tưởng tượng của ta là ta, là ngã của ta. Từ những tưởng hành thức cũng vậy. Sắc, thọ, tưởng, hành, thức luôn luôn cho rằng là của mình là ta, đó là ta và chúng ta trở thành quan trọng cực độ để rồi phong cho mình cái chức là thiên tử là vua để có thể hái sao trời tặng cho mỹ nhân. Đây là điều tạo khổ mà Phật nhận thấy. Ta không thấy vạn vật các Pháp là vô thường. Ta luôn mặc định rằng nó tồn tại, từ đó tạo chấp ngã cho mình, thành cái tôi quá lớn, và cái tôi này như vị vua muốn mang sao xuống đặt vào tầm tay tặng cho người mình thương. Danh vọng địa vị, vật chất, từ đó ta biến mình thành ông trời con có một ngã tướng thật lớn như thiên tử, hái sao trời tặng cho người để chiếm cứ người ta. Khổ tới từ cái tôi đó, mà khi hơi thở đi ra chẳng còn nữa, không còn nữa, sắc thân này ta trả về đất nước gió lửa, những cảm thọ bị cắt đứt hoàn toàn bởi não bộ tê liệt và chết, thối rữa rồi tất cả sự suy nghĩ nhận thức, ta đều bị chấm dứt ngay chỗ đó.  Khi thần thức xuất ra thì thân hoàn toàn không còn sự hoạt động. Thần thức tức là con chip đã chết, như vậy sự tồn tại ở đằng sau cái ngã, ngã thân, ngã tướng này là một cái ngã của bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, cái ngã của dung nhiếp được năng lượng ác và thiện. Nói như vậy chúng ta phải chăng là chấp ngã, nhưng mình phải hiểu được ngã của phật tánh là ngã của bất sanh, bất diệt, bất tăng, bất giảm, nó như, giải thích đơn giản, chỉ là một con chíp, dung chứa trí tuệ tốt làm thiện, hay trí tuệ ác để hành ác mà thôi. Tức là nó bị chi phối năng lượng tích trữ nhân quả thiện ác, phương tiện là thân xác sống, căn, năm uẩn này ta tạo ra mà thôi. Như người máy kia cũng được tạo ra bởi những mục đích trí tuệ của con người phục vụ cho y học, trở thành những nhà bác sĩ, người máy cứu con người, hay trở thành những kẻ giết người do người ta đã sử dụng để đi giết người. Cũng có những người máy người ta sử dụng để đi cứu người, tùy theo phần thông minh, trí tuệ được gắn vào con chíp. Phật dạy cho chúng ta đơn giản trong đời thường hiện tại, chúng ta thực sự chỉ là một người máy được cài đặt bởi chính chúng ta do nghiệp thức. Hãy trở về với Phật tánh bất sanh diệt, bất cấu tịnh, bất tăng bất giảm đó, vào thân vào các sắc uẩn của chúng ta, để từ đó, chúng ta được tự do vận hành bằng trí tuệ để tẩy rửa những trí tuệ của phàm phu nhồi nhét vô. Một con người bình thường như chúng ta, nếu giữ được tâm thật trong sáng, thật sáng suốt thì ở dưới đáy tâm thức của chúng ta, chồng chất biết bao nhiêu tánh Phật, và rồi ánh sáng của sao trời là ánh sáng của Phật tánh sẽ hiển lộ để ta tặng cho muôn người sự an vui và hạnh phúc, lão hề làm ăn mày bên lề đường còn có thể làm được. Trăng giữa trời và đất, giữa tâm, tâm động và tâm tịnh, giữa ác và thiện. Chúng ta làm sao chuyển hóa mọi ác nghiệp để có trải nghiệm hạnh phúc và bình an.  Nếu ta cứ chấp rằng ta là ta, là con vua, ta là người này người kia độc bá thiên hạ, hùng tôn một cõi, chết cũng về dưới mồ. Cho nên ngày hôm nay ta nhớ rằng ta không lấn chiếm vào lĩnh vực phân tích vô ngã, chiều sâu của kinh điển, Bảo Thành và các bạn là những người lao động bình thường, để có thể có một sự hiểu biết, chiều sâu, nhớ rằng nếu các bạn đang có những mối quan hệ mà các bạn đang va chạm hằng ngày, từ trong cuộc sống của gia đình, giữa vợ chồng, con cái, tạo ra những sức ép của cuộc sống gây ra khổ chính là vì bạn đã tôn vinh bản thân quá mức, đặt mình lên như một vị Pháp chủ, như một vị Pháp vương, như một vị thiên Vương, thiên Chủ, như một vị Thiên Tử. Khi chạm tới tự ái thì xong luôn, con cái cha mẹ, hàng xóm, nhân loại cũng thết. Tự ái, mà tự ái dâng trào chính là bản ngã, tôi, cho nên có thật nhiều người khi bị chạm vào tự ái, cho rằng tất cả mọi người đều sai, chỉ mình là đúng, tôi đúng, tôi đúng, họ sai. Tôi, tôi, tôi, tôi, tôi riết nhiều cái tôi nó nặng quá thì nó rớt xuống thành tội, tội nghiệp mình, tội nghiệp muôn người. Ta chỉ hiểu đơn giản người máy đã chế tạo được thì chính nghiệp lực tạo thành chúng ta. Và nếu là nghiệp ác thì ta đã sinh ra với thân xác và những uẩn không được thanh tịnh.  Nếu là nghiệp thiện, có nhiều phước báu thì hình thành thân xác này đẹp và ngũ căn lành lặn. Người máy được chế tạo bởi những thông liệu tuyệt vời cài đặt tốt đẹp. Thân ta chứa đựng năng lượng của ác nghiệp hoặc thiện nghiệp sẽ luôn luôn luân hồi để tái tạo thành những dạng khác, hiểu được điều đó để thấy rằng đừng chấp vào cái tôi, cái ngã này, cái ngã của sắc, của thân. Đừng chấp vào tôi là cảm thọ đó để tự ái dâng trào, đừng chấp vào tranh cãi, bàn luận, hý luận, tranh luận. Đừng chấp vào suy nghĩ của mình là đúng, lời nói của mình là chuẩn mực, hành vi của mình là luôn luôn thượng tôn ở bên trên ai ai cũng ở dưới. Sự nhận xét mang vào cài đặt cho ta như thế, tất cả những điều đó chỉ là sự tương tác vận hành của người máy. Người máy này đã bị ác nghiệp nó đưa thông tin vào điều khiển, tạo nghiệp mà thôi. Phật dạy không sao. Phật đã tìm ra nguyên nhân chính là ngã, vô thường, sanh diệt, nên cứ tồn tại mãi. Quán chiếu vô thường, hiểu được ngã không khó, từ đó ta có thể tái tạo sự thông minh ngược vào cuộc đời, đó là phần trí tuệ thông minh được cài đặt qua các tạo tác của thiện nghiệp, nếu các bạn hành động thiện và cài đặt vào trong thần thức của mình, nhập vào trong thức quán niệm thật sâu, nhìn thật rõ, đưa vào thì nó sẽ đẩy lùi được những cái ác, có được trí tuệ nhà Phật, không còn là kiến thức của tham ái, tham dục, tham tài nữa, mà trở thành trí tuệ của nhà Phật, bất tăng giảm, bất cấu tịnh, bất sanh diệt, thì đau khổ trong cuộc đời của các bạn sẽ hết. Sẽ bớt thì sự phiền toái giữa vợ chồng, chửi nhau, không hiểu, không thông cảm. Chúng dần dần bị tiêu tan, và trở thành gia đình hạnh phúc, nhân rộng ra trong xã hội, quan hệ giữa cha mẹ, con cái. Do đó khi quán chiếu vô ngã, chúng ta hiểu nôm na đơn giản như Bảo Thành vừa nói ta dễ thực hành. Và năng lượng vi diệu để có thể đưa vào thành trí tuệ thông minh, cao tột nhất để người máy là ta đây có thể vận hành theo một chương trình được cài đặt Từ Bi. Con chíp Từ Bi vi diệu vô cùng, do đó qua sự an trú trong hơi thở chánh niệm, ta đón nhận năng lượng Từ Bi. Năng lượng đó cài đặt vào trong cuộc sống, qua các giác quan, qua cảm xúc, cảm thọ, qua tư tưởng, qua lời nói, hành vi, những nhận thức suy nghĩ của mình, về sắc thân của cuộc đời đang hiện hữu dựa trên nền tảng nhân thiện, bỏ nhân quả ác. Đời sống của bạn sẽ hết khổ, sẽ bớt khổ, sẽ thêm vui, sẽ càng vui. Mục đích đó chính là mục đích ban đầu mà đức Phật đi tìm một con đường để giải cứu cho sự thống khổ đè nặng lên kiếp người của chúng ta. Để trải nghiệm hạnh phúc và bình an rồi các bạn mới có thể đi lên những tầng cao hơn được gọi là thành A la Hán. Còn khi khổ đau trước mặt chưa giải quyết, có nghĩa là chưa thấu được vô thường, vẫn còn tôn vinh bản ngã là thiên tử, hái sao trên trời, các bạn khó có thể chứng đắc những phần diệu dụng, cao cao ở trên kia. Cho nên hãy trở về một người rất bình thường, bình thường như lão ăn mày ở lề đường còn biết thuật thần thông ảo diệu để hái sao trời. Tức là giữ cho cái thau có thể giữ được nước, nước thông suốt, tĩnh lặng để hái được sao ở trên trời. Chúng ta nếu giữ được tâm thanh tịnh của Pháp thiện và được phát triển bằng pháp thiện thì ta sẽ có tánh nhìn của thau nước không gợn sóng, bất cấu tịnh, Nam Mô Tà Mô Tà Mô Đa Ra Hoang, để thấy được rằng vạn pháp xa vời như tinh tú ngàn trời xa xôi cũng có thể hiển lộ ngay trong thau của tâm thức cuộc đời, sự nhận thức bình thường của ta vi diệu vô cùng, không gợn sóng lăn tăn từ những ác nghiệp phóng tâm tham dục, tham ái.

Với tâm thanh tịnh, tánh nhìn của lăng nghiêm bát nhã, tánh nhìn của Nam Mô Tà Mô Tà Mô Đa Ra Hoang, nhận ra các pháp hữu vi và vô vi, hiển lộ đồng một lúc, các bạn hãy cố gắng hít thở chánh niệm, quán chiếu năng lượng tình thương của Phật Mu A Mu Sa, lăng kính của lăng nghiêm, của bát nhã Nam Mô Tà Mô Tà Mô Đa Ra Hoang. Các bạn không trở thành ông vua. Vị ăn mày bên lề đường của cuộc đời có thể thấu được tất cả, trung thực của Phật tánh, qua sự giữ cho nó thăng bằng mặt nước trong thau, như trong tâm thanh tịnh, thau của cuộc đời hiện tại đang hiện hữu, bạn sẽ hết khổ, bớt phiền não, bạn sẽ an vui. Xin mời các bạn đặt bàn tay Trí Tuệ và bàn tay Từ Bi vào với nhau.

Chúng con nguyện mười phương Chư Phật ban rải năng lượng tình thương xuống cho mọi loài chúng con, để chúng con quán chiếu thấy rõ được thực tướng của vô ngã, hít vào bằng mũi, đưa xuống dưới bụng phình ra, thở từ từ, hóp bụng vào, quán chiếu thân tâm, trì mật chú Mu A Mu Sa, Nam Mô Tà Mô Tà Mô Đa Ra Hoang.

Chúng con nguyện mười phương Chư Phật ban rải năng lượng tình thương xuống cho mọi loài chúng con, để chúng con quán chiếu thấy rõ được thực tướng của vô ngã, hít vào bằng mũi, đưa xuống dưới bụng phình ra, thở từ từ, hóp bụng vào, quán chiếu thân tâm, trì mật chú Mu A Mu Sa, Nam Mô Tà Mô Tà Mô Đa Ra Hoang.

Leave a comment

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.